Tuesday, January 22, 2013

Hát bội, đờn ca tài tử và sự hình thành cải lương từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 ( phần 1)


 
Hát bội, đờn ca tài tử và sự hình thành cải lương từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 ( phần 2)

http://vulep-photo.blogspot.com.au/2013/01/hat-boi-on-ca-tai-tu-va-su-hinh-thanh.html


Hát bội, đờn ca tài tử và sự hình thành cải lương từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 ( phần 1)
Nguyễn Đức Hiệp – Nguyễn Lê Tuyên
(Phần 1)

Bài này có mục đích trình bày lịch sử phát triển từ hát bội, nhạc tài tử đến cải lương từ cuối thế kỷ 19 đến các thập niên đầu thế kỷ 20, đặc biệt là qua các tư liệu bằng tiếng Pháp và hình ảnh còn lại ở nhiều nơi chưa được khai thác đúng mức.
Nhiều người chưa biết là khi hát bội lần đầu tiên diễn ở Pháp năm 1889 đã gây sự tò mò thích thú từ quần chúng và giới nghệ thuật. Nhạc sĩ Debussy đã có xem nhạc Gamelan và tuồng hát bội, và âm nhạc sáng tác sau này của ông có sự ảnh hưởng của nhạc Gamelan Java và nhạc hát bội Việt Nam.

Các tư liệu về lịch sử nhạc tài tử ở Việt Nam đều ghi là ban nhạc tài tử đầu tiên do ông Nguyễn Tống Triều thành lập ở Mỹ Tho, sau đó qua Pháp trình diễn ở hội chợ quốc tế năm 1910 (có tư liệu nói năm 1911).

Nhưng các tài liệu này đều không cho chi tiết gì thêm và cũng không ghi chú tài liệu tham khảo. Qua sự tìm hiểu về nhạc tài tử qua các hình ảnh tư liệu, cùng với sự hợp tác nghiên cứu của cô Mai Mỹ Duyên của Đại học Văn hóa (Thành phố Hồ Chí Minh), chúng tôi đã khẳng định được là ban nhạc ông Nguyễn Tống Triều đã qua Pháp dự Hội chợ đấu xảo thuộc địa Marseille vào năm 1906 và chân dung của các nghệ sĩ trong ban này, trong đó có cô Ba Đắc và cô Hai Nhiễu (con ông Triều). Năm 1910 hay năm 1911 thật ra không có hội chợ quốc tế nào ở Pháp.

Trong lúc tìm hiểu ban nhạc tài tử của ông Nguyễn Tống Triều sang Pháp trình diễn vào năm nào, chúng tôi cũng tìm ra được người trưởng đoàn có trách nhiệm với ban nhạc tài tử và từ đó biết được ông trưởng đoàn người Việt (người Pháp gọi ông là “M. Viang”) này không những đã dẫn ban nhạc của ông Nguyễn Tống Triều đến Hội chợ Thuộc địa Marseille năm 1906 mà trước đó cũng đã dẫn một ban nhạc tài tử đến Hội chợ triễn lãm thế giới ở Paris năm 1900 (Exposition universelle de Paris), năm khởi đầu thời đại nghệ thuật Belle Époque ở Âu châu. Ban nhạc tài tử này có khả năng rất lớn cũng chính là ban nhạc của ông Nguyễn Tống Triều. Đặc biệt ở Nhà hát Đông Dương (“Théâtre Indochinois”) ở Hội chợ 1900, người đẹp nổi tiếng ở Âu châu thời đó, Cléo de Mérode, đã mặc trang phục Cam Bốt múa theo tiếng nhạc của ban nhạc tài tử Việt Nam.

Báo chí Pháp đã đề cập nhiều về vũ điệu Cam Bốt này do Cléo de Mérode trình diễn ở sân khấu Nhà hát Đông Dương. Cléo Diane de Mérode là người đẹp mà các họa sĩ nổi tiếng như Toulouse de Lautrec, Georges Jules Victor Clairin, Giovanni Boldini đã vẽ chân dung, Gustav Klimt đã bị quyến rũ và Alexandre Falguière tạc tượng theo chân dung của Cléo. Cũng trong dịp này nhạc sĩ và nhà dân tộc nhạc học, ông Julien Tiersot (cũng là bạn của nhạc sĩ Debussy) đã có quan sát, tiếp cân và phỏng vấn ông trưởng đoàn nhạc tài tử và ghi lại các dụng cụ và âm nhạc tài tử. Julien Tiersot đã viết lại trên tạp chí âm nhạc thời đó giới thiệu cho giới học thuật và công chúng về nhạc tài tử Việt Nam.

Ngoài ra các ký giả, nhà văn như ông Maurice Talmeyr, Arthur Pougin, B. Marcel đã mô tả chi tiết trong tạp chí nghệ thuật “Le Ménestrel” và báo chí về buổi trình diễn điệu vũ “Cam Bốt” của Cléo de Mérode theo tiếng nhạc do ban tài tử Việt Nam trình diễn.
Qua kinh nghiệm đã trình diễn trước công chúng ở Hội chợ Marseille 1906 (và cũng rất có thể ở Hội chợ Thế giới Paris 1900), ban nhạc tài tử của ông Nguyễn Tống Triều sau khi trở về Mỹ Tho đã tự tin để đến với quần chúng lần đầu ở Khách sạn Minh Tân, và từ đó khởi đầu cho sự lan truyền trình diễn trên sân khấu của nhạc tài tử và “ca ra bộ” ở miền Nam.

Trong sự phát triển của nhạc tài tử ở Việt nam trong giai đoạn đầu và sau này ảnh hưởng đến sự hình thành cải lương, chúng tôi cũng nhấn mạnh đến vai trò của ông Nguyễn Phong Cảnh, chủ nhà hàng Cửu Long Giang và khách sạn “Phong Cảnh Khách lầu” gần chợ Bến Thành, trong việc nâng đở và phổ thông nhạc tài tử đến giới trí thức và quần chúng ở Saigon nói riêng và Nam bộ nói chung.

Hát bội trong bối cảnh Nam Kỳ từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20
Nguồn gốc hát bội (hát tuồng) vẫn chưa rõ ràng. Có hai giả thuyết mà các nhà nghiên cứu đã tranh luận: giả thuyết hát bội bắt nguồn từ dân gian và sau đó ảnh hưởng hát tuồng từ Trung quốc và giả thuyết hát bội được truyền vào thời Lý-Trần như đã được ghi trong “Vũ Trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ và Đại Việt Sử ký toàn thư.

“Nước Nam ta từ đời nhà Lý, có người đạo sĩ nhà Tống bên Trung Hoa sang dạy dân trong nước múa hát làm trò. Trò tuồng ở nước ta bắt đầu từ đấy. Sau này bọn giáo phường mới bày thêm lối hát Bát đoạn cầm tục âm, gọi lầm là Bắt đoạn.”
(Vũ Trung tùy bút – Bàn về âm nhạc)

“Trước đấy, khi đánh Toa Đô, bắt được người phường hát là Lý Phương Cát rất giỏi hát, những con ở trẻ của các nhà thế gia theo y tập hát điệu phương Bắc. Nguyên Cát sáng tác các vở tuồng truyện cổ, có các tích như Tây vương Mẫu hiến bàn đào. Trong tuồng cổ có các vai quan nhân, chu tử, đán nương, câu nô gồm 12 người, mặc áo gấm, áo thêu, đánh trống, thổi sáo, gảy đàn, vỗ tay, gõ ồn phím đàn (Chú : Chu Hậu chết, Hậu Chủ ghi vào mặt sau đàn tỳ bà: Hương trời còn đuôi phượng, hơi ấm tỏa phím đàn), thay đổi nhau ra vào làm trò, khiến người xem xúc động, muốn cho buồn được buồn, muốn cho vui được vui. Nước ta có tuồng truyện bắt đầu từ đấy. “
(Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Bản Kỷ - Quyển VII, Khoa Học Xã Hội - Hà Nội 1993)

Hát tuồng phát triễn rộng rãi vào thời Lê và hậu Lê. Vào thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, Đào Duy Từ, con nhà xướng ca, vào đàng Trong và ở tại Bình Định, ông đã gây dựng hát tuồng, viết sang tác nhiều tuồng trong đó có vỡ tuồng nổi tiếng “San Hậu” và hát tuồng phát triển mạnh mẽ từ đó ở đàng Trong.

Từ lúc người Việt di dân và định cư ở vùng đất mới Gia Định (gồm cả sau này là các tỉnh miền Nam) thì họ mang theo các tập tục văn hóa từ phía bắc đến. Không như ở miền trung hay miền bắc, hát bội không chỉ giới hạn phần lớn trong cung đình hay trong giới quan lại, thì ở vùng đất mới, Gia Định, hát bội là sân khấu nghệ thuật hầu như duy nhất mà quan lại và nhân dân đều biết đến và có dịp thưởng thức qua các tuồng diễn bởi các đoàn hát bội ở các sân khấu trong rạp, ngoài trời hay ở các đình làng, chùa, miếu… khắp nơi.
Phát triển cực thịnh của hát bội là các thập niên đầu thế kỷ 19 dưới thời của tổng trấn Gia Định thành, Lê Văn Duyệt. Ngay cả ở các vùng hẻo lánh ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, cũng có tuồng hát bội trình diễn ngoài trời hay trong đình làng. Xuống các tỉnh miền Tây các đoàn hát bội di chuyển bằng ghe thuyền, gánh hát bội vì thế cũng được gọi là “ghe hát bội”.

Như đã nói, tổng trấn Gia Định Thành, Lê Văn Duyệt, là người say mê hát bội. Ông thường “cầm trầu” (cầm trống trầu) theo dõi nội dung và cách trình diễn của các nghệ sĩ hát bội để đánh giá phán xét khen thưởng hay phê bình. Tuồng “San Hậu” cũng được ông chỉnh sữa lại. Ông xây rạp hát bội ngay trong thành và ngoài Gia Định thành.  

Rạp hát bội của ông ở gần chùa Khải Tường, nay là khu vực trường Lê Quí Đôn, Saigon ngày nay. Trong lăng Lê Văn Duyệt ngày nay ta vẫn còn thấy tượng của một nghệ sĩ hát bội mà ông ưa thích.

Khi Lê Văn Duyệt mất và nhất là khi vua Minh Mạng dẹp cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi thì hoạt động sân khấu hát bội xuống nhiều, cho đến khi Pháp đến Nam kỳ năm 1861. Tuy vậy hát bội vẫn còn phổ thông trong dân chúng ở miền Nam cho đến cuối thế kỷ 19. Qua sự tiếp cận với các lưu dân người Hoa đến miền Nam từ thế kỷ 17 lập nghiệp, mà đa số trở thành người Minh hương sau nhiều đời. Hát bội vì thế cũng bị ảnh hưởng từ phong cách của hát Hồ quảng ở miền nam Trung Hoa.

Charles Lemire (1839-1912), một người thông hiểu văn hóa người Việt và Cam Bốt, đã tả hát bội như sau trong một quyển sách ông xuất bản năm 1869 (15), tức là vài năm sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ:

“ Giải trí lớn, quan trọng nhất của người An Nam, kể cả con nít và người lớn, giàu và nghèo, mà họ đều có một đam mê thật sự, là hát bội. Những tuồng hát bội của họ hầu như lúc nào cũng là bi-hài kịch với các ban hát phụ họa, các diễn viên tự thuật dông dài, có những đoạn nói tiếng Tàu mà chính những diễn viên cũng không hiểu, và các cảnh với ngôn ngữ bình dân dùng trong dân gian. Các tuồng chính trình diễn có nguồn gốc được sáng tạo xa xưa trong những chiến trận huyền thoại, các cuộc khởi nghĩa, các trận đánh. Đó là câu truyện của các nữ anh hùng trẻ, những tướng lănh, những v́ vua anh minh, các quan cố vấn có thế lực, những hiền triết già, những tên hề nổi tiếng. Trong buổi diễn có cả tiếng pháo nổ, sự xuất hiện các vị thần bảo hộ, các con rồng hay cọp phun lửa hay gây kinh hoang, những loài vật tưởng tượng và các vị thần vạn năng mà sự can thiệp trong câu chuyện là một hành trình phiêu lưu đúng thật của người Nam kỳ. Hai thể loại tuồng, bi kịch và hài kịch, về nội dung cũng như về hình thức rất gần với các tuồng trong hát bội Trung Hoa. Người ta ngạc nhiên khi thấy những dân tộc này không có mang áp dụng vào trong thực tế những đức tính quân sự, đam mê biểu dương hiếu chiến như thế. Họ hài lòng tự tạo ra ảo tưởng về những chiến công kỳ diệu và những hành động anh hùng tưởng tượng. Người An Nam, khi cảm thấy bàn tay sắt đè lên hò, rất xuất sắc trong sự tự trả thù mình hoặc là qua bởi mưu mẹo, hay là bằng sự chế riễu chua cay. Cũng thế, các hài kịch thường là lý thú hay ho, tuy vậy đôi khi cũng tự làm hạ thấp, các bi kịch cũng như thế, làm cho chúng đến tầm thường.
Các vai diễn đàn bà là do đàn ông đóng. Diễn viên nam trang điểm mặt và đánh phấn bằng rễ cây nghệ. Họ biết đánh các màu đen, trắng và đỏ, thành một mặt xấu gớm ghiết và kinh khủng. Họ nói hay hát trên sân khấu với giọng kim và phát ra những tiếng thét la rất lớn khó chịu cho lổ tai của người Âu.

Khi có một nhân vật chức vị quan trọng đến xem giữa khán giả trong lúc trình diễn, vỡ tuồng được ngưng, và tất cả các diễn viên, tiến đến trước sân khấu để cuối đầu xuống kính chào ông ta. Họ mời ông ta, như một vinh dự, thỉnh thoảng đánh vào một cái trống đặt gần trong tầm tay của ông, để ra hiệu sự hài lòng của ông trong các đoạn đặc biệt đáng khen. Cũng trong thời gian đó, một người bản sứ có chức vị ngồi gần một cái bàn, trước mặt ông là một cái mâm lớn bằng đồng chứa các sâu đồng tiền kẻm (sapèques), ông thảy vào đó một vài tiền (“tien”) trước sân khấu mỗi lần mà diễn xuất của các diễn viên xứng đáng với sự chuẩn y của ông ta. Những diễn viên này cũng đã nhận một tiền lương thích hợp. Những người giàu đãi bạn bè và dân làng của họ bằng cách trả hết chi phí để mướn đoàn hát bội đến trình diễn một hay nhiều ngày ở làng. Thông thường thì hát bội trình diễn trong 3 ngày và ba đêm hay hơn nữa và chỉ nghĩ để ăn uống. Sân khấu khi thì ở trong chùa, khi thì dưới một mái lớn lợp bằng tre, với các bậc chung quanh sân khấu. Sân khấu không có một décor nào hay quá giản dị đến nổi không gợi cho ta sự tái tạo quang cảnh và tưởng tượng gì. Khán giả có thể uống và hút thuốc. Không có vỗ tay hay âm mưu gì chê chống các diễn viên. Chung quanh sân khấu là các nhà hàng dựng tạm thời.

Hát bội Tàu thì dựng trên sân rộng hơn. Y phục diễn viên phong phú hơn, dàn nhạc khéo hơn và các diễn viên khỏe dõng dạc hơn. Các vai diễn viên đóng hấp dẫn cuốn hút và các trận đánh với võ khí thật, nhẩy nhào lộn nguy hiểm, v.v…Đoàn hát bội Tàu lớn gồm có các thanh niên đã được giao mượn cho ông bầu bởi cha mẹ họ lúc còn nhỏ hay cho đến 16 hay 18 tuổi, đoàn trả công bằng cách nuôi ăn, bảo quản và dạy chúng nghề khó và cực này, khai thác chúng và khai thác sự hiếu kỳ của quần chúng.
Ở Nam kỳ, các diễn viên không thể có một vai vế chính thức gì trong xã hội.


..

Hình 1: Một gánh hát bội ở Saigon cuối thế kỷ 19.

Qua sự mô tả và nhận xét của Lemire vào giữa thế kỷ 19 về hát bội ở Nam Kỳ, thì hát bội rất phổ thông trong quần chúng, các tuồng có cả tiếng Hán-Việt (hát khách) và tiếng Việt (hát nam) bình dân, phản ảnh văn hóa của lưu dân Nam bộ và ảnh hưởng của người Minh Hương, tuy vậy diễn viên hát bội không được nhà nước và chính quyền coi trọng trong xã hội.  

Theo “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” của Huỳnh Tịnh Của thì từ hát bội là “con hát, kẻ làm nghề ca hát”, hát nam là “hát giọng ngâm nga” và hát khách là “hát giọng mạnh mẽ”.

Lê Văn Duyệt, có lẽ vì là hoạn quan, ông không thích diễn viên hát bội đàn bà đóng vai trong các tuồng cho nên có một thời gian dài giữa thế kỷ 19, chỉ có các diễn viên hát bội nam đóng cả các vai nữ. Qua sự mô tả của Lemire có cho ta thấy điều này.



Hình 2: Diễn hát bội ngoài trời ở Saigon vào cuối thế kỷ 19.

Ở Saigon và Chợ Lớn, vào đầu thế kỷ 20 đã có nhiều rạp hát bội. Rạp Lương Khắc Ninh ở ngay trung tâm Saigon trình diễn nhiều tuồng hát bội cho đến năm 1926 thì đổi thành rạp chiếu bóng Rex (tức Bến Thành A) hay rạp cô Huyện Chung hay rạp chợ Đủi (rạp Olympic sau này) ở Chợ Lớn nơi gánh hát bội Bầu Thắng trình diễn (23).

Hát bội được coi là tượng trưng cho văn hóa, sân khấu Nam bộ và rất đặc trưng vì thế được người Pháp để ý tìm hiểu. Năm 1889, hát bội được trình diễn ở Hội chợ thế giới Paris.

Ở tại hội chợ thế giới, “Exposition Internationale Paris 1889”, tổ chức đúng 100 năm cách mạng Pháp, có nhạc sĩ Debussy tham quan và lần đầu tiên ông cũng như dân chúng Pháp và các nước được tiếp cận với dàn nhạc Gamelan từ Indonesia và tuồng hát bội “Roi de Duong” có các nhạc khí và nhạc Việt Nam.

Tuồng hát bội “Roi de Duong” (“Vua đời Đường”) do ông Nguyễn Đông Trụ làm giám đốc và đạo diễn (directeur) trong thời gian trình diễn ở hội chợ thế giới tổ chức ở Paris 1899 và sau đó kéo dài khoảng 5 tháng ở Pháp. Ông Nguyễn Đông Trụ rất có thể cũng là người sau này cùng với các ông Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Văn Trung biên tập tờ báo Nông cổ Mín Đàm. Một trong những tờ báo đầu tiên ở Việt Nam, sau tờ Gia Định báoPhan Yên báo.

Đoàn hát bội của ông Nguyễn Đông Trụ gồm 40 người, kể cả các nhạc sĩ. Giám đốc Nguyễn Đông Trụ, theo bài báo của Henri Latour trong tờ “Le Journal de la Jeunesse” 1889 (18), cũng là tác giả của các vỡ trình diễn, Ông khoảng 25 tuổi, luôn trầm tư và suy nghĩ để tâm vào các vỡ hát bội, ông là người duy nhất nói trong đoàn nói được tiếng Pháp.

"Trình diễn hát bội, ở An Nam, kéo dài nhiều ngày, dài như ba bộ truyện của Alexandre Dumas hay bốn bộ trường thiên của Richard Wagner. Nhưng để cho hợp với ‘gu’ của người Paris, Nguyễn Đăng Trụ đã cố gắng cắt bớt nhiều bởi vì chúng ta không thể hiểu được những tràng đối thoại của các nhất vật khác nhau"

Không như kịch tây phương mà ban nhạc ở trước sân khấu, ban nhạc của hát bội thì lại ở hai bên trên sân khấu
Khi nhà đạo diễn ra dấu, những nhạc sĩ mặc áo dài đen của người An Nam vào sân khấu từ hai cửa hai bên hông, và liền ngồi xuống, đánh các trống (tam-tam) và các gồng, chơi một loại nhạc cụ giống như ‘violon’ nhưng có hai dây (1), thổi kèn và tất cả tạo ra một âm nhạc chói tai và lạ lùng mà đứng ngoài giống như từ một dàn nhạc biniou (kèn ống của người Bretagne và người Tô Cách Lan).dĩa chũm chọe, thanh kẻng ba góc. Cùng lúc, các quan với y phục rực rỡ xuất hiện trên sân khấu, và vỡ bắt đầu giữa những tiếng kêu la cao, sắc sảo của các diễn viên, mà tiếng nói từ yết hầu của họ át đi tiếng gong và tù và."

Theo các báo Pháp thì tuồng hát bội trình diễn ở Paris khai mạc ngày 5 tháng 6 kéo dài 5 tháng năm 1889 trước tòa nhà Invalides (Esplanade des Invalides) đã thu hút rất nhiều người xem vào buổi sáng và chiều (14)

Rạp trình diễn, được xây dưới sự hướng dẫn của kiến trúc sư trưởng ở Đông Dương là ông Foulhoux, có thể chứa 4 đến 5 trăm người. Giá vé gần dàn nhạc là 5 Fr, hạng nhất là 2 Fr, hạng nhì 1 Fr và giá đứng ở hành lang 50 cents, thì hát bội An Nam không thể lấy vào nhỏ hơn số tiền 230,000 Fr trong suốt thời gian trình diễn. Mỗi ngày có ít nhất 8 buổi diễn tuồng: 5 tiếng ban ngày, nghĩ 1 tiếng rưỡi và sau đó là 3 tiếng chiều tối, tổng cộng 8 tiếng, các diễn viên làm việc rất cực nhọc khổ sở, điều này ít người xem ở Paris biết đến (12).

Hình 3: Các diễn viên hát bội năm 1889.

(nguồn http://nguyentl.free.fr/html/photo_expo_universelle_fr.htm)

Hình 4: Người đánh trống tuồng hát bội “Roi de Duong” 1889

(nguồn http://nguyentl.free.fr/html/photo_expo_universelle_fr.htm)
Tuồng hát bội “roi de Duong” nói về cuộc mưu sát vua Lý Tiên Vương bởi người anh rễ muốn cướp ngai vang và lên ngôi với sự giúp đỡ của 4 vị quan trong triều đình không thành khi vua được mời đến dự tiệc. Vua thoát được và gian nan trốn khỏi qua nhiều hiểm nguy và cuối cùng đã được một người con nuôi cứu và khai phục được ngai vàng. Đây là câu chuyện về vua Đường Minh Hoàng thời nhà Đường mà như ta biết là hầu hết các tuồng hát bội đều dựa vào các truyện trong lịch sử Trung Quốc (2).


Hình 5: Một diễn viên hát bội trình diễn ở Hội chợ Paris 1889
(nguồn: Library of Congress, LC).

Tuồng hát bội “Roi de Duong” rất nổi bật ở Hội chợ thế giới 1889 và được sự chú ý và gây ngạc nhiên không ít công chúng tại hội chợ Expo 1899 vì nó hoàn toàn khác lạ với những gì mà người Âu đã được biết. Mặc dầu tuồng hát bội đối với họ rất là khó hiểu nhưng cảnh tượng, y phục, âm nhạc, cách nói… trong tuồng đã làm họ suy nghĩ và bàn cãi trong giới học thuật. Ta có thể thấy hai luồng ý kiến khác nhau trong lúc này ở Pháp về “théâtre Annamite” như sau.

Ý kiến trong báo chí Pháp
“.. Tóm lại, kịch An Nam (tức hát bội) đứng về phương diện đặc biệt, là một trong các thu hút tò mò gây ngạc nhiên nhất ở Hội chợ triễn lãm thế giới. Nếu, bởi sự kiện là chúng ta không hiểu biết về ngôn ngữ, nó không thể cho ta một ý tưởng thật như là giá trị văn học đích thực của những tác phẩm này dưới con mắt của chúng ta, thì nó chỉ cho chúng ta biết được, những người ít quen thuộc thể loại này, một khía cạnh bề ngoài không đúng mức của một nghệ thuật rất đặc thù, rất phong phú, rất đặc sắc.

Nó cho ta thấy những y phục đẹp mắt hoàn tòan khác với y phục chúng ta, mà chúng ta không có ý niệm gì, và nếu tiếc thay chúng ta trong tình trạng không thể biết thưởng thức tài năng của các diễn viên, cũng như là tính chất của những vở tuồng mà họ diễn đóng, cảnh trình diễn mà họ cho chúng ta xem, thì nó không có kém đáng gây cho cảm hứng để có một sự chú ý rất thật và rất sống động”

(Trích từ Le théâtre à l'Exposition universelle de 1889: notes et descriptions, histoire et souvenirs (14), chữ trong ngoặc ở trên là của dịch giả).
Debussy và một số nhạc sĩ, phê bình gia, ký giả đã so sánh tuồng “Roi de Duong” với vỡ opera “Ring des Nibelungen” của Wagner và nhạc hát bội chói tai với tiếng trống kinh hoàng với nhạc Wagner hay “Esclarmonde” của Massenet trong thời điểm lúc đó đã và đang diễn ở Pháp (19). Tiersot đã ký âm các giai điệu của đàn gáo mà Debussy đã thưởng thức tại buổi trình diễn: (20)

Hinh 6: Giai điệu trình bày bằng đàn gáo
Các học giả Edward Lockspieser, Leon Vallas và Frank Dawes đều đồng ý rằng âm nhạc của Đông Dương giữ một vai trò trong âm nhạc của Debussy. Michael Schmitz đã minh họa những ảnh hưởng của nhạc Hát Bội trong tác phẩm “Pour les Quatres” viết cho đàn Piano. Sự đối thoại tiết tấu từ đó giữa tay phải và tay trái trong tác phẩm này tương tự như phong cách song tấu của nhạc cụ Vietnam mà Debussy đã nghe tại Exposition 1889. Schmitz cho rằng sự thay đổi đột ngột về âm sắc và tốc độ âm nhạc để thể hiện các yếu tố tình tiết thay đổi trong Hát Bội cũng đã được Debussy sử dụng ngay trong phần đầu tác phẩm. Tiết tấu của trống và giai điệu của Đàn Gáo được giới thiệu vào khoảng khuôn nhịp 20-57. Schmitz tin rằng Debussy cũng có cảm hứng từ các bộ điệu của Hát Bội khi sáng tác tác phẩm này (25).

Hinh 7: Tiết tấu của Trống được sử dụng trong tác phẩm “Pour les Quatres” viết cho đàn Piano của nhạc sĩ Debussy
Trong quyển “Les musiques bizarres à l’Exposition, recueillies et transcrites” của Benedictus (21) cũng có ghi lại các “note” của một đoạn âm nhạc (gọi là “Charivari Annamite”, hay “Tiếng nhạc hổn độn ồn ào An Nam”) trong tuồng hát bội trình diễn ở Paris 1889.
Sau năm 1889, không thấy có sư hiện diện của hát bội ở Hội chợ Paris 1900. Ở Hội chợ triễn lãm thuộc địa năm 1906, Marseille, đoàn hát bội đã trình diễn một tuồng hát bội trong đó có cảnh một người đàn bà không chung thủy bị xử án dưới địa ngục (xem hình 9). Và năm 1922, cũng ở Hội chợ thuộc địa Marseille, có đoàn hát bội trinh diễn. Trong dịp này, cũng có ông Phạm Quỳnh và cả hoàng đế Khải Định đi qua Pháp tham dự hội chợ. Trước đó vào năm 1906, ông Nguyễn Văn Vĩnh đã có dự hội chợ Marseille 1906 và sau đó ông đã đi tham quan nhiều nơi khác để học hỏi kỷ thuật in ấn, văn minh và văn học nước Pháp.

Hình 8: Đoàn hát bội ở hội chợ triễn lãm thuộc địa Marseille 1906 - Ảnh “carte postale” do Editeur: M.O Ollivier sản xuất (nguồn https://collyon.com/Image:OLLIVIER_1906_32.jpg).

 
Hình 9 – Tuồng hát bội diễn ở Marseille năm 1906. Một người đàn bà không chung thủy trong tòa xử án dưới địa ngục.
 
Nguyễn Đức Hiệp