Monday, March 25, 2013

Tưởng Niệm Cuộc Di Tản Chiến Thuật từ Vùng I và II vào Vùng III Chiến Thuật 38 năm trước


 

 

Tưởng Niệm Cuộc Di Tản Chiến Thuật từ Vùng I và II vào Vùng III Chiến Thuật 38 năm trước:

 

 


Ngày 21 tháng 3 năm 1975 nguyên gia đình bị Cộng sản bắn chết ở quốc lộ 1,
gần đèo Hải Vân đang trên đường di tản.

 

 

TẠI BAN MÊ THUỘT



- 2 giờ 20 sáng ngày thứ hai-10 tháng 3 năm 1975, quân Cộng sản bắc việt bắt đầu nã pháo đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly vào các cứ điểm quân sự và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

- 4 giờ chiều ngày thứ hai-10 tháng 3 năm 1975, quân Cộng sản bắc việt chiếm thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh còn được trấn giữ...

- 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975, thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người”. (Nguyễn Định, BMTNĐCC.) Theo nguồn Quốc Gia Hành Chánh.






TẠI QUẢNG TRỊ








TẠI HUẾ



Ngày 21 tháng 3 năm 1975 nguyên gia đình bị Cộng sản bắn chết ở quốc lộ 1,
gần đèo Hải Vân đang trên đường di tản.


Người phụ nữ này 1 mình dẫn mấy đứa con chạy nạn từ Huế đang ngồi trên đèo Hải Vân với nỗi lo âu.



TẠI CỬA THUẬN AN







Chiếc xà lan Quân vận Vùng 1, di tản Quân & Dân chuyến cuối cùng từ Cửa Thuận An.

TẠI ĐÀ NẴNG


Ngày 27-28 tháng 3 năm 1975, người Đà Nẳng chạy trốn Cộng sản.


Ngày 27-3-1975 Chuyến máy bay dân sự đầu tiên của Mỹ mướn đáp xuống phi trường Đà Nẵng
để đưa người di tản, nhưng mỗi khi máy bay đáp xuống những hỗn loạn diễn ra dữ dội.
Nên các chuyến bay dân sự đó phải đình chỉ.


Sau đó thay đổi bằng 4 máy bay C-130 nhưng hỗn loạn vẫn liên tục nên 4 chiếc này chỉ cất cánh
duy nhất được một lần vào ngày 29-3-1975




Ngày 27 tháng 3 năm 1975 tại bến tàu Đà Nẵng.






Cảng Đà Nẵng, trong giờ phút hấp hối.
Người dân chạy trốn Cộng sản được câu lên tàu SS Pioneer Contender.







Một số người dân di tản đả được ngồi yên dưới hầm Tàu.



Những ngày cuối tháng 3-1975. Có 6 chiếc xà lan do các tàu kéo
từ Vũng Tàu ra Đà Nẵng để đưa người di tản.


Bến tàu Đà Nẵng rất hỗn loạn, nên các chiếc tàu thả neo ngoài xa,
dân dùng thuyền bè từ bờ ra tàu tại Đà Nẵng



Mỗi chiếc tàu chở được chừng 10 ngàn người thì nhổ neo về Cam Ranh.


Chiều ngày 28-3-1975, tại bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Những cảnh hỗn loạn xảy ra.
Cả chục chiếc thiết vận xa M-113 làm đầu cầu nối ra biển để lên tàu.
Sau đó có nhiều chiếc bị chìm xuống biển và một số binh sĩ biết lội thì còn sống sót,
số người không biết lội đã bị chìm dần xuống đáy biển Mỹ Khê.



Tối 28-3-75 bọn Cộng sản pháo kích vô căn cứ
Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, lửa cháy rực một góc trời.






Chiến Hạm HQ-802 nhổ neo xuôi Nam lúc 11 giờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975.


Và những số người dân khác. cố gắng dùng đủ loại phương tiện để chạy ra khỏi Đà Nẵng.
Phải bằng mọi cách để trốn thoát khỏi Cộng sản ngày 28 tháng 3 năm 1975.






Ngày 30 tháng 3 năm 1975 Dân tị nạn từ Huế, Đà Nẵng và các thành phố khác
chen chúc chạy trốn Cộng sản trên quốc lộ 1 hướng vô Nam.

TẠI TUY HÒA, PHÚ YÊN


Ngày 16 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột, Pleiku, KonTum, Phú Bổn nói chung là tất cả các tỉnh trên
Cao Nguyên đang vào giờ hấp hối, cho nên những con đường để thoát chạy như là, 7B, 14, 19, 20, 21.


Nhưng tổn thất nhất là con đường 7B có thể nói đó là
CON ĐƯỜNG MÁU của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa & Dân chúng.



Những người dân rút chạy khỏi cao nguyên ngày 19-3-1975 tại Phú Bổn, Kontum.


Một quân nhân VNCH trên trực thăng đã cứu bé trong cuộc di tản hỗn loạn


Đoàn xe nối đuôi qua cầu phao trên Sông Ba ngày 18-3-1975. Phú Yên.


Ngày 22-3-1975 một phụ nữ được trực thăng di tản ra khỏi Tuy Hòa,
ôm chặt con vào lòng với nỗi đau khổ vì người chồng còn kẹt ở lại.

THÁNG BA TRÊN TỈNH LỘ 7B.

( Cảm tác theo hình ảnh và bài viết của Phi Loan- Hoàng Thị Cỏ May).

 

Tháng Ba trên tỉnh lộ 7B,

Đoàn người chạy loạn dài lê thê,

Người mẹ tất tả đôi quang gánh,

Gia tài là những đứa con kia.

Thằng anh túm áo mẹ bước theo,

Thằng em ngồi trong thúng thơ ngây,

Chắc nó tưởng trò chơi chốc lát,

Mẹ gánh về nhà như mọi ngày.

Theo dòng người mẹ nó bước mau,

Cha nó còn cố thủ dãi dầu?

Người lính tan hàng không đơn vị,

Những ngày cuối cùng anh ở đâu ?

Có người di tản từ Pleiku,

Phố núi cao, phố núi sương mù,

Hoa Dã Quỳ vẫn vàng đâu đó,

Nước vẫn trong xanh nước Biển Hồ.

Có người di tản từ Kontum,

Đạn bom xé nát rừng cao nguyên,

Người dân ngơ ngác rời thành phố,

Nỗi buồn cao như đỉnh Ngọc Linh.

Người ta gọi nhau trong hãi hùng,

Kẻ ngược người xuôi, đường mịt mùng ,

Về Tuy Hòa hay đi Phú Bổn ?

Có nơi nào bình yên hơn không?

Tiếng khóc, tiếng súng, tiếng còi xe,

Rợn người như từ ác mộng về,

Bên đường đồ đạc nằm vương vãi,

Người bên người mà vẫn phân ly.

Bao quân, dân, cán, chính miền Nam ,

Trên tỉnh lộ này đã hi sinh,

Quân đoàn 2 rút quân, triệt thoái,

16 tháng Ba năm 75.

Đường liên tỉnh lộ 7B ơi,

Bao tháng Ba qua, bao ngậm ngùi,

Bốn phương tám hướng đời dâu bể,

Ai có thể quên kỷ niệm này.

Nguyễn Thị Thanh Dương.

( March 20, 2013 )

******************************

 

38 năm qua, Phi Loan xin được mời các anh chị đọc để nhớ về thăng trầm và khổ đau cuả dân tộc mình trên chặng đường di tản trong biến động 1975 trên con đường tỉnh lộ 7B

Phi Loan





(Viết cho những khốn khổ, những điêu linh của đất nước tôi và dân tộc tôi)

Tôi gấp quyển sách đang đọc dở dang, đưa tay chùi vội những giọt nước mắt vừa lăn dài xuống má. Quyển sách đó có tựa đề thật đơn giản “Những người tù cuối cùng” của tác giả PGĐ và chính anh cũng là một trong hai mươi người tù cuối cùng được thả ra sau hơn mười bảy năm bị giam cầm, tù đày trong lao tù Cộng sản. Anh và các bạn đã là nhân chứng sống của lịch sử. Những giòng chữ đó có hấp lực thật lạ lùng, càng đọc càng như bị kéo ngược về dĩ vãng - một dĩ vãng đau buồn và uất hận mà tôi đã cố chôn vùi thật sâu trong tận cùng của ký ức...

Sau biến cố tang thương của tháng 3 năm 1975 khi Ban Mê Thuột bị thất thủ - là kéo theo những đổ vỡ-những mất mát-những chia lìa-những đọa đày-những uất hận của tập thể Quân Dân Cán Chính VIỆT NAM CỘNG HÒA của một quân đội hùng mạnh của những người con đã sống chết cho lý tưởng Tự Do và sự phồn vinh của dân tộc. Ba mươi sáu năm qua biết bao thăng trầm - nhưng mỗi lần nhớ về, lại là những lần nhói buốt, nó như vết thương lòng không thể nào lành. Tôi thầm cám ơn tác giả của quyển sách đó đã là động lực để tôi ngồi xuống ghi lại những hình ảnh mà tôi đã chứng kiến của buổi chiều hôm ấy...

Trong cái lũ lượt của đoàn người di tản từ PLEIKU và KONTUM qua con đường liên tỉnh lộ 7B. Con đường này bỗng nhiên ồn ào, náo nhiệt trong hỗn loạn, rồi tiếng gọi nhau vang dội cả một góc rừng. Tiếng khóc than, tiếng xe, tiếng súng nổ rền vang, hệt như đàn ong vỡ tổ, người chạy ngược kẻ chạy xuôi, tìm kiếm người thân bị thất lạc, đồ đạc vất bừa bãi, những chiếc xe hư bỏ lại trên đường ngỗn ngang. Tôi và HÙNG người em trai nhỏ, cũng tất bật trong đoàn người gian truân đó, bây giờ chỉ còn hai chị em, ba mẹ và các em còn kẹt lại Ban Mê Thuột, mấy bữa nay tôi đã chạy đôn chạy đáo để dò la tin tức gia đình, nhưng biết hỏi ai bây giờ, bởi chẳng ai biết rõ điều gì đã xảy ra.

Trong tâm trạng rối bời đó, tôi chỉ còn nhớ một điều là khi đến lớp, điều làm tôi ngạc nhiên là sĩ số các em học sinh đến trường chỉ còn một nữa, tôi đang tìm câu trả lời thì có một em học sinh đến gần bên tôi nhỏ nhẹ lên tiếng hỏi:

- Thưa cô, ba mẹ em muốn biết là cô có muốn chạy loạn cùng xe với gia đinh em không?

Chạy loạn!!! Tôi nghe tiếng chạy loạn mà tim nhói đau, có nghĩa là tôi phãi rời bỏ nơi chốn này, xa trường, xa học trò thân yêu của tôi, mà đi đâu kia chứ? Nhìn đứa học trò ngoan mà tôi thương nhất lớp chưa biết phải trả lời ra sao?

Tôi mới ra trường được vài tháng, nhận nhiệm sở ở đây, ngôi trường nằm trên ngọn đồi thoai thoải trông thật dễ thương, tuy mới về nhưng tôi được học sinh, phụ huynh học sinh và các đồng nghiệp thương mến chắc tại cái nhỏ nhoi, yếu đuối của tôi trong làn sương mù và cái se lạnh của PLEIKU chăng? Tôi nghĩ thế.

- Thưa cô, cô quyết định như thế nào ạ?

Tiếng nhỏ nhẹ của người học trò lại cất lên, cắt ngang giòng suy tư của tôi, tôi lặng lẽ gật đầu. Thế là mọi chuyện cứ tuần tự đi qua như đã đuợc sắp xếp tự bao giờ để giờ này đây tôi cũng có mặt trong đoàn người di tản. Khi chiếc xe bị kẹt cứng, không thể nhích thêm một chút xíu nào, tôi nhảy xuống xe để được thoải mái một lát và đi lần về phía trước, bỗng nghe một giọng ru con lanh lảnh vừa ru, vừa khóc nghe thật não lòng!!...

- “Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi, con đi trường học, mẹ đi trường đời”.

Tôi lần theo tiếng ru hời đó, đến dưới gốc cây to thấy một người đàn bà, đầu tóc rối bù, quần áo xốc xếch, ôm chặt đứa con trong lòng mà ru, tôi tò mò bước đến gần để hỏi thăm, chỉ vừa kịp nhìn thấy đứa bé có nước da xám sậm, tôi như muốn ngã qụy xuống, không biết đứa bé đã chết tự bao giờ, vậy mà người mẹ vẫn cất tiếng ru nảo ruột để ôm ấp, để vỗ về con mình. Tôi kêu thất thanh

- Xin giúp chị ấy, con chị đã chết rồi!

Thấy tôi la lớn tiếng, có mấy người đang ở gần đấy bèn chạy lại, nhưng không thể nào lấy được đứa bé ra khỏi vòng tay của chị, chị cứ ghì chặt đứa con của chị vào lòng, đứa bé như một bảo vật, một gia tài cuối cùng của chị, chị vừa khóc vừa ru “Con đi trường học, mẹ đi trường đời".

“Chị đã thi đậu trường đời rồi đó chị”, tôi thầm nhủ như thế, định mệnh oan nghiệt đã cướp đi người con yêu dấu của chị, chị cứ thế mà than van, “Con ơi! con bú đi con...” Tôi đưa tay bịt tai lại để không còn nghe giọng ru hời thống thiết của một người mẹ vừa mất đi đứa con nhỏ thân yêu.

Không thể chịu đựng thêm nữa, tôi vội quỳ xuống truớc khoảng đất trống gần đó mà lạy mười phương tám hướng vừa khóc, vừa van vái. Xin tha cho dân tộc con, cho đất nước con... Tôi úp mặt vào đôi bàn tay nhỏ bé kêu lên "Chúa ơi!"...

Bỗng một bàn tay, đặt lên vai tôi

- Chị ơi, chạy mau đi, không kip nữa đâu.

Tiếng người em trai hối thúc. Tôi vội vàng đứng lên như người vừa hoàn hồn, tôi chạy như bay để lại sau lưng người đàn bà đang ôm ghì xác đứa con đã chết với tiếng ru hời bi thảm...

Ba mươi sáu năm trôi qua, chẳng biết người đàn bà với tiếng hát ru hời ấy về đâu???

Phi Loan Hoàng thị Cỏ May