Thursday, November 1, 2012

Thế giới đánh hội đồng đập đầu Tàu Cộng theo thế liên hoàn:



 

---------- Forwarded message ----------From: VietHai Tran

 
Thế giới đánh hội đồng đập đầu Tàu Cộng theo thế liên hoàn:
 

Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc tại Biển Đông

(Petrotimes) - Sự cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông là điều đang diễn ra và chắc chắn sẽ ngày một mạnh mẽ hơn, các nước tại khu vực sẽ cần có những bước đi hợp lý để tránh rơi vào tình trạng “nhất biên đảo”, nghĩa là không dựa vào một bên để chống một bên.
 
Về mặt địa lý, Biển Đông là điểm kết nối của những con đường hàng hải huyết mạch vận chuyển năng lượng, dầu thô và khí đốt tự nhiên đi từ bán đảo Ảrập và cao nguyên Iran qua Ấn Độ Dương sang khu vực kinh tế đầy sôi động Đông Á. Có thể thấy rằng, ngày nay con người đang sống trong kỷ nguyên thông tin và hàng không nhưng vẫn có tới 90% hàng hóa thương mại được vận chuyển giữa các lục địa là bằng các tàu chở container, trong đó có 1/3 lượng hàng hóa tính theo giá trị được vận chuyển qua Biển Đông, con đường hàng hải kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Thêm vào đó, Biển Đông được đánh giá là có trữ lượng dầu khí khổng lồ, cửa ngõ của thương mại thế giới, nơi tập trung những tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng. Vì vậy, nó thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nước và dĩ nhiên không loại trừ các cường quốc trong khu vực và trên thế giới.
Biển Đông là khu vực tập trung nhiều tuyến hàng hải tấp nập nhất trên thế giới
Sự chuyển dịch trọng tâm chiến lược an ninh sang khu vực Thái Bình Dương của Mỹ được Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố chính thức vào tháng 11 năm ngoái và tái khẳng định nhiều lần trong thời gian gần đây bởi chính Tổng thống Obama cũng như Ngoại trưởng Hilarry Clinton. Khẳng định của Mỹ diễn ra đồng thời với thời điểm Washington cần tập trung nhiều hơn vào việc đối phó với những khó khăn của nền kinh tế nội địa. Nhưng thực tế, sự chuyển dịch trọng tâm này là điều không thể tránh khỏi trong chiến lược lâu dài của Mỹ. Khẳng định việc tăng cường sự hiện diện của Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương càng làm cho những tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông giữa Trung Quốc với các nước láng giềng trở nên nóng bỏng hơn.
 
Vai trò của Mỹ đối với sự ổn định trên Biển Đông
 
Hải quân Mỹ đã duy trì sự hiện diện trên Biển Đông từ nhiều thập kỷ qua kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Hải quân và Không quân Mỹ đóng vai trò khá quan trọng trong việc đảm bảo an ninh hàng hải tại Biển Đông, điều này cho phép vận tải hàng hóa qua Biển Đông an toàn và đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kể từ sau Chiến tranh lạnh. Đây là đóng góp có tính tích cực thực sự mà Mỹ đem lại cho thế giới.
Ngoại trưởng Mỹ: "Châu Á là động lực chính của chính trị toàn cầu và rất quan trọng với Mỹ"
Sự thờ ơ của Mỹ với khu vực Biển Đông trong một thời gian dài đã tạo khoảng trống cho Trung Quốc củng cố và mở rộng ảnh hưởng tại đây. Nhưng sự trỗi dậy của bất kỳ cường quốc mới nổi nào cần được theo dõi chặt chẽ, đặc biệt là khi trỗi dậy này kéo theo cuộc chạy đua quân sự và xung đột tranh chấp lãnh thổ trong khu vực. Thậm chí với cả Nhật Bản và Hàn Quốc, những đồng minh thân cận của Mỹ tại Đông Á, cũng đang ra sức hiện đại hóa các hạm đội không quân và hải quân với những trang thiết bị tối tân nhất. Một điều hiển nhiên, các nước nằm ở vị trí quanh Biển Đông đang rơi vào cuộc chạy đua vũ trang, điều này làm phức tạp thêm tình hình an ninh hàng hải khu vực. Sự hiện diện của Mỹ ở Biển Đông đã tạo nên sự cân bằng, tương quan lực lượng giữa các nước lớn-nhỏ trong khu vực và kiềm chế khả năng Trung Quốc dùng sức mạnh của mình để lấn át các nước nhỏ hơn.
 
Nếu Mỹ không quay trở lại khu vực Thái Bình Dương sẽ gây ra nguy hại cho trật tự quân sự đa cực trên Biển Đông do những căng thẳng chính trị và kinh tế trước đó. Hệ thống quân sự đa cực càng trở nên bất ổn hơn lưỡng cực và đơn cực vì có nhiều sự tương tác hơn giữa các cực với nhau và phát sinh nhiều toan tính sai lầm hơn bởi mỗi quốc gia đơn lẻ đều tự điều chỉnh cân bằng quyền lực để có lợi hơn cho mình. Sức mạnh quân sự Mỹ tại Biển Đông không chỉ tạo ra sự điều chỉnh phù hợp với sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc mà còn để ổn định khu vực với sự gia tăng tiềm lực quân sự của các nước. Nếu sức mạnh của Mỹ bị suy yếu thì quan hệ giữa Trung Quốc, Ấn Độ và các cường quốc khác có thể trở nên hiếu chiến hơn bởi vì trong thời điểm hiện tại, lợi ích của tất cả các nước về lưu thông tại khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương đều do sự đảm bảo an ninh của Hải quân và Không quân Mỹ.
 
Sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc
Biển Đông liên quan với Trung Quốc dưới nhiều góc độ: địa lý, lịch sử, tài nguyên và nhất là việc đảm bảo các tuyến đường vận tải biển. Các tuyến đường hàng hải qua eo Malacca có ý nghĩa sống còn với nước này vì đây là tuyến đường huyết mạch cung cấp năng lượng cho nhu cầu khổng lồ của Trung Quốc.
 
 Nếu như đường biển này bị phong tỏa chỉ một ngày thì xã hội Trung Quốc ngay lập tức sẽ rơi vào tình trạng bất ổn.
 
Theo đó, chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là tránh đụng độ, dùng “sức mạnh mềm” để kiểm soát các lợi ích của Trung Quốc liên quan tới Biển Đông. Trong khi nền kinh tế Mỹ đang gặp phải khủng hoảng trầm trọng thì tiềm lực kinh tế dồi dào của Trung Quốc vào thời điểm hiện tại đang là vũ khí lợi hại để Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng với các nước ven Biển Đông.
 
Thông qua con đường tăng cường sự ràng buộc về kinh tế, Trung Quốc tìm cách dịch chuyển cán cân lực lượng nghiêng theo phía mình để dần đẩy Mỹ ra xa khu vực Biển Đông. Điều này nhằm thiết lập ảnh hưởng lên các nước khác trong khu vực, khiến các nước này phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc và loại trừ khả năng liên kết với Mỹ để đối phó với Trung Quốc.
 
Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc
Không chỉ tăng cường vai trò ảnh hưởng ở khu vực xung quanh Biển Đông mà Trung Quốc còn mở rộng tầm ảnh hưởng ra xa hơn, lan tới khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, nơi được cho là khu vực mà Mỹ đang nỗ lực thiết lập một vành đai để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.
 
Với việc giúp đỡ các nước khu vực duyên hải Ấn Độ Dương xây dựng các cảng biển hiện đại nhất, từ Myanmar, Sri Lanka, Bangladesh, Pakistan tới Kenya, Trung Quốc ngày càng tạo ra sự gắn bó lợi ích chặt chẽ hơn với các nước này.
 
Tất cả các dự án này được đưa ra là để phục vụ cho các mục đích thương mại đơn thuần và được tài trợ bởi chính các công ty Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng có một vài trường hợp việc tài trợ xây dựng các cảng không thực sự phục vụ cho mục đích thương mại. Ví dụ như cảng Gwadar tại Pakistan, được xây dựng ở khu vực đang bất ổn chính trị khiến cho việc đưa vào sử dụng gặp phải phiền toái.
 
Có thể nhận thấy, bước đi của Trung Quốc cũng giống như tất cả các cường quốc trước đây, trước tiên là mở rộng phạm vi ảnh hưởng, sẵn sàng thông qua đầu tư mạo hiểm để thiếp lập quan hệ sau đó tăng cường ảnh hưởng về kinh tế, chính trị và quân sự.
 
 
Những vấn đề xảy ra trong nội tại xã hội Trung Quốc do sự phát triển kinh tế quá nóng có thể làm hạn chế chính sách bành trướng của Trung Quốc. Nhưng điều này chưa hẳn đã kìm bước Trung Quốc trên con đường tiếp tục hiện đại hóa quân sự và hải quân để củng cố ý đồ vươn ra Biển Đông. Vì vậy, Mỹ bị đẩy vào tình huống bị ép buộc phải đối phó với sự gia tăng nhanh chóng về tiềm lực kinh tế và thương mại của Trung Quốc.
 
Áp lực với Mỹ
Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989 phát đi tín hiệu về sự sụp đổ của mô hình Chủ nghĩa xã hội ở châu Âu, khi đó các chuyên gia an ninh đã đưa ra nhận định về sự chuyển hướng trong chính sách ngoại giao và sức mạnh quân sự tại Thái Bình Dương. Nhưng cuộc chiến xâm lược Kuwait của Saddam Hussein năm 1990 đã khiến mối bận tâm của Mỹ với khu vực Trung Đông kéo dài hàng thập kỷ.
 
Quân đội Mỹ phải triển khai chiến dịch trên mặt đất chống lại Iraq trong năm 1991 và lực lượng Hải Quân và Không quân Mỹ phải duy trì để áp dụng vùng cấm bay những năm tiếp sau đó. Tiếp đến, sự kiện 11/9 đẩy chính quyền Bush lao vào cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq như một động thái đáp trả. Sau một thập kỷ bị sa lầy ở Trung Đông, cuộc chiến cũng đi đến hồi kết và hậu quả là Mỹ trở nên “tương đối cô lập” và quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh thân cận cũng bị rạn nứt.
 
Vai trò của Mỹ ở nhiều khu vực bị suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là tại các khu vực được cho là lợi ích chiến lược của Mỹ như khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trong 8 năm dưới sự điều hành của chính quyền Tổng thống Bush, Mỹ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội cho sựu quay trở lại khu vực và việc gần đây Mỹ bày tỏ quyết tâm dành nhiều nỗ lực tập trung vào trung tâm của kinh tế toàn cầu - khu vực châu Á -Thái Bình Dương đòi hỏi Mỹ cần có nhiều động thái chứng tỏ cam kết của mình.
 
Trung Quốc đang ra sức bành trướng trên Biển Đông
Nhưng hiện tại, vai trò của Mỹ tại Biển Đông đang đối mặt với nhiều thách thức: sự trỗi dậy của Trung Quốc với sức mạnh tổng lực – có vị trí tiếp giáp với Biển Đông và các nước ven bờ khác; sức mạnh kinh tế khiến Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế lớn nhất của hầu hết các nước quanh Biển Đông; và hạm đội tàu ngầm Trung Quốc ngày càng được hiện đại hóa.
 
Bắc Kinh đang đầu tư vào tàu ngầm, tên lửa hành trình và không gian vũ trụ và chiến tranh điện tử như một phần của kế hoạch xây dựng quốc phòng.
 
 
Có thể nói, Trung Quốc không hề có ý định tiến hành một cuộc chiến với Mỹ nhưng sự đầu tư này của Trung Quốc đang gây nhiều trở ngại cho Mỹ tại thời điểm khủng hoảng kinh tế. Với chính sách “bành trướng” của Trung Quốc tại Biển Đông, đang gây ảnh hưởng tới quyền chủ quyền của các nước như Việt Nam, Malaysia, Phillipines và Singapore, tất cả các nước này đều là đồng minh chính thức hoặc đối tác quan trọng với Mỹ.
 
Đường “lưỡi bò” của Trung Quốc gần như “liếm” hết diện tích Biển Đông, không chỉ xâm lấn tới chủ quyền của các nước ven Biển Đông mà còn ảnh hưởng tới lưu thông hàng hải quốc tế, đặc biệt là các hoạt động hằng hải truyền thống của Mỹ tại vùng biển này.
 
 
Tất nhiên, chính sách ngoại giao của Mỹ đã để mắt nhiều hơn tới các động thái này của Trung Quốc trong những năm qua, nhưng các nhà ngoại giao Mỹ có thể bị coi là thiếu sự tin cậy nếu họ không được hỗ trợ bởi sự tăng cường hiện diện quân sự trong tương lai.
 
Chính vì thế, trọng tâm chiến lược được đưa ra là: Mỹ không có ý định rời bỏ hải quân tại châu Á trong thời điểm họ cần đến. Bởi vậy, một quan chức ngoại giao cấp cao của một nước Biển Đông đã nói rằng nếu Mỹ có ý định rút một tiểu đoàn máy bay chiến đấu khỏi khu vực thì sẽ có sự thay đổi về người làm chủ trong cuộc chơi tại đây, đẩy các nước nhỏ trong khu vực tới chỗ bị bức bách.
 
 
Bước đi đối phó của Mỹ với Trung Quốc
Ý đồ đưa châu Á trở thành trọng tâm trong chiến lược của Mỹ đã có cách đây hàng thập kỷ - điều này thể hiện rõ trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Richard Nixon từ năm 1972. Một khi Mỹ giảm bớt những bận tâm vào cuộc chiến ở Trung Đông sẽ cho phép giới quan chức Mỹ rảnh rang hơn để thực hiện các mục đích ở nơi khác và Biển Đông sẽ nhận được nhiều sự quan tâm hơn từ Mỹ.
 
 
Những động thái gần đây của Mỹ đã chứng tỏ rõ điều này. Những đề nghị và hứa hẹn mà Washington đưa ra với Myanmar và các kế hoạch hỗ trợ quân sự cho Australia hay Philippines là một động thái chính trị và quân sự khẳng định sự quay trở lại khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. Ngoại trưởng Clinton sẽ không tiếp tục chấp nhận quan niệm coi Myanmar đơn giản chỉ là một vệ tinh của Bắc Kinh.
 
Còn Australia, một quốc gia nằm ở vị trí giao thoa giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương chỉ có 23 triệu dân nhưng sẽ nâng chi tiêu quân sự lên mức 279 tỷ USD trong 2 thập kỷ tới cho trang thiết bị và hiện đại hóa tàu ngầm, máy bay chiến đấu và các trang thiết bị hạng nặng khác.
 
Australia có thể trở thành đồng minh quan trọng nhất của Mỹ trong thế kỷ 21, hơn cả Anh, nước đồng minh quan trọng nhất của Mỹ trong thế kỷ 20.
 
 
Nhà lãnh đạo dân chủ Myanmar Aung San Suu Kyi tại cuộc gặp lịch sử với Tổng thống Barack Obama ở Nhà Trắng
 
 
 
Báo cáo của Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS) đưa ra nhận xét: “Mỹ cần xây dựng một mạng lưới các nước đối tác trong khu vực làm đối trọng với sức mạnh hải quân của Trung Quốc trong khu vực. Việt Nam, Philippines là các nhân tố chính. Nếu Việt Nam không dám đương đầu với Trung Quốc thì các nước yếu hơn như Philippines sẽ không thể nào dám đương đầu với Trung Quốc.
 
Nếu sức mạnh của Mỹ suy giảm, Việt Nam không có lựa chọn nào khác là phải sống chung với Trung Quốc”. Mỹ đánh giá Việt Nam có vai trò quan trọng hàng đầu với Trung Quốc tại Đông Nam Á vì Việt Nam án ngữ ở bờ Tây của Biển Đông và có nền kinh tế phát triển nhanh chóng, với dân số 87 triệu người, với tiềm lực ngày càng lớn mạnh. Quan hệ quân sự Việt - Mỹ từ chỗ là kẻ thù trong chiến tranh, hiện đang ấm dần lên, với việc hải quân hai nước thường xuyên có các hoạt động giao lưu thường kỳ để tăng cường hiểu biết và phía Việt Nam tạo điều kiện cho phép tàu hải quân Mỹ tiến hành việc tìm kiếm quân nhân mất tích trong vùng lãnh hải Việt Nam tại Biển Đông.
 
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, sự thay đổi trọng tâm chiến lược của Mỹ không hoàn toàn là để ngăn chặn Trung Quốc. “Chính sách ngăn chặn” là một khái niệm đặc trưng trong thời kỳ Chiến tranh lạnh chỉ các chính sách thù địch Mỹ đưa ra để đối phó với Liên Xô. Quan hệ Mỹ - Trung Quốc thời điểm hiện tại lại hoàn toàn khác biệt, đang có hàng chục nghìn sinh viên và nhân viên điều hành các tập đoàn Mỹ có mặt tại Trung Quốc chứng kiến sự đa dạng và sâu rộng trong quan hệ Mỹ - Trung Quốc. Tuy nhiên, sự hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông buộc Mỹ phải xích lại gần hơn với các láng giềng của Trung Quốc để bảo vệ lợi ích của chính Mỹ trên Biển Đông.
 
 
Kinh tế Mỹ đang đối mặt với nhiều khó khăn trong khi các nền kinh tế có sức sống nhất thế giới nằm ở châu Á-Thái Bình Dương và thực lực kinh tế đang dần chuyển dịch từ phương Tây sang phương Đông nên Mỹ sẽ làm hết sức để bảo vệ lợi ích của mình.
 
Cùng với đó, Mỹ cũng được các nước trong khu vực chào đón vì sự xuất hiện với vai trò gìn giữ hòa bình và ổn định cũng như có vai trò trong sự phát triển về kinh tế, xã hội và chính trị của các nước trong khu vực, làm giảm bớt các lo ngại về sự bành trướng của Trung Quốc với Biển Đông. Sự cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông là điều đang diễn ra và chắc chắn sẽ ngày một mạnh mẽ hơn, các nước tại khu vực sẽ cần có những bước đi hợp lý để tránh rơi vào tình trạng “nhất biên đảo”, nghĩa là không dựa vào một bên để chống một bên.
 

Chiến lược tái cân bằng của Mỹ và tranh chấp tại Biển Đông

Chiến lược tái cân bằng của Mỹ đang mang lại một diện mạo mới cho tranh chấp tại Biển Đông, đồng thời cạnh tranh giữa các cường quốc càng khiến cho nhiệm vụ của ASEAN trở nên phức tạp hơn.
Lời bình luận
Chính quyền Obama đã và đang tái tập trung ngoại giao và lực lượng quân sự hướng về Châu Á-Thái Bình Dương như một phần của chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ. Bên cạnh việc thúc đẩy quan hệ quân sự về chiều sâu với Phi-líp-pin, Mỹ đã tuyên bố vào cuối năm 2011 việc thiết lập hiện diện luân phiên 2500 lính thủy đánh bộ Mỹ tại Darwin, Úc và triển khai lực lượng bốn tàu tuần duyên LCS tại Xinh-ga-po.
 
Tháng 6/2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cũng tuyên bố rằng Mỹ triển khai 60% lực lượng hải quân tới Thái Bình Dương. Chiến lược tái cân bằng của Mỹ đang mang lại một diện mạo mới cho tranh chấp tại Biển Đông.
Chính sách của Mỹ tại Biển Đông
 
Theo truyền thống, Mỹ thường không sẵn sàng tham gia vào vấn đề chủ quyền tại Biển Đông. Thật vậy, nước này liên tục tuyên bố rằng những vùng lãnh thổ do Phi-líp-pin yêu sách không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Hiệp định phòng thủ chung ngày 30/8/1951 ràng buộc Mỹ và Phi-líp-pin. Mỹ chỉ tập trung ở vấn đề bảo vệ quyền tự do hàng hải và đảm bảo cho sự di chuyển của Hạm đội 7.
 
Song, cuộc đụng độ giữa tàu giám sát biển Impeccable của Mỹ với lực lượng hải quân Trung Quốc và các tàu tuần tra dân sự phía Nam đảo Hải Nam hồi tháng 9/2009 đã gây ra quan ngại nghiêm trọng đối với Oa-sinh-tơn. Phía Bắc Kinh lên án rằng Impeccable đang tiến hành nghiên cứu khoa học biển tại vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc trong khi hoạt động này cần phải có sự chấp thuận của nước này. Trong khi đó, Oa-sinh-tơn lập luận rằng các hoạt động của tàu giám sát là chính đáng theo nguyên tắc tự do hàng hải.
 
Lập trường của Mỹ tại Biển Đông đã không có nhiều thay đổi cơ bản kể từ vụ việc Impeccable. Oa-sinh-tơn vẫn không thể hiện lập trường nghiêng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền và tiếp tục hạn chế lợi ích cốt lõi ở vấn đề tự do hàng hải tại các vùng biển có tranh chấp. Hơn nữa, Mỹ ngày càng tỏ ra quan tâm tới việc Trung Quốc nâng cao năng lực hải quân và không cảm thấy yên tâm với cam kết của Trung Quốc về nguyên tắc tự do hàng hải tại các vùng biển có tranh chấp.
 
Ngoại giao chủ động của Mỹ
Tại Đối thoại Shangri-La năm 2010, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates tuyên bố rằng Oa-sinh-tơn không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền, tuy nhiên, Mỹ phản đối bất cứ hành động nào đe dọa tự do hàng hải tại Biển Đông. Tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) hồi tháng 7/2010 đã thể hiện Mỹ có lợi ích quốc gia về tự do hàng hải tại Biển Đông, điều này đã khiến Trung Quốc giận dữ. Bắc Kinh coi những bình luận của Ngoại trưởng Mỹ giống như một hành động can thiệp từ bên ngoài. Bà Clinton một lần nữa lại đề cập tới Biển Đông tại Hội nghị ARF tại Bali tháng 7/2011, khi đó, bà khuyến khích ASEAN và Trung Quốc sớm đạt được bộ quy tắc ứng xử về vấn đề này.
 
Bản thân Tổng thống Obama đã đẩy vấn đề Biển Đông tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) tại Bali vào tháng 11/2011. Ông đã khẳng định lại rằng Mỹ không đứng về bên nào trong các tranh chấp nhưng lợi ích của Mỹ bao gồm tự do hàng hải và thương mại không bị cản trở trong vùng biển nửa kín này.
 
 Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo phản ứng qua việc khẳng định nguyên tắc tự do hàng hải và kêu gọi giải quyết hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông.
 
Sau khi Việt Nam và In-đô-nê-xi-a nắm vai trò chủ tịch ASEAN, các nước tiếp theo giữ vai trò chủ tịch luân phiên thường niên là Cam-pu-chia, Bru-nây và My-an-ma, là các quốc gia được cho là sẽ đi theo Bắc Kinh bằng cách hạn chế tối đa việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.
 
Điều này đã từng có tiền lệ tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN (AMM) được tổ chức tại Cam-pu-chia tháng 7/2012 khi các quốc gia Đông Nam Á thất bại khi không thông qua được bản tuyên bố chung do những khác biệt quan điểm về Biển Đông. Mặc dù có mặt trong Hội nghị ARF diễn ra ngay sau đó, Ngoại trưởng Mỹ cũng không can thiệp vào công việc nội bộ của ASEAN.
Phản ứng của Trung Quốc
Trung Quốc coi chiến lược tái cân bằng của Mỹ như là một nỗ lực bao vây sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc tại Châu Á.  
 
Từ quan điểm của Trung Quốc, Oa-sinh-tơn đang cố gắng bao vây Trung Quốc bằng cách tăng cường các mối quan hệ đồng minh song phương và triển khai nhiều quân lính và tiền của tới khu vực này. Đặc biệt, Mỹ đang thúc đẩy việc can thiệp ở Biển Đông, do đó can dự vào những vấn đề mà Bắc Kinh coi là song phương với các bên yêu sách Đông Nam Á. Trung Quốc cũng nhận định những hoạt động gần đây của Phi-líp-pin tại các vùng biển tranh chấp, chẳng hạn như trong vụ bãi cạn Scarborough năm 2012, chịu sự ảnh hưởng của Oa-sinh-tơn.
 
Trung Quốc và Mỹ tìm cách ngăn chặn khả năng quân sự hóa các tranh chấp. Bắc Kinh và Oa-sinh-tơn coi Biển Đông là một vấn đề cần một giải pháp ngoại giao thay vì sử dụng quân sự, và ít nhất trong thời điểm hiện nay, hai nước này đều sẵn sàng để ASEAN định hướng quá trình quản lý xung đột.
 
Tuy nhiên, Oa-sinh-tơn và Bắc Kinh đều không đồng thuận về việc tranh chấp Biển Đông nên được bàn thảo ở cấp độ nào. Mỹ muốn vấn đề này được đặt ra tại các diễn đàn quốc tế, tuy nhiên, điều này vẫn là vấn đề lớn đối với Trung Quốc. Bắc Kinh càng ngày càng quan tâm tới bất cứ các nỗ lực quốc tế hóa tranh chấp, thay vào đó, nước này muốn thảo luận các vấn đề theo kênh song phương với từng bên yêu sách Đông Nam Á yếu thế hơn. Do đó, cuộc đối đầu và cạnh tranh giữa các cường quốc tại Biển Đông càng khiến cho nhiệm vụ của ASEAN trở nên phức tạp hơn trong tương lai.
Tiến sỹ Ralf Emmers là Giáo sư liên kết và Điều phối Chương trình Chủ nghĩa đa phương và khu vực hóa tại trường Quan hệ quốc tế Rajaratnam (RSIS), Trường Đại học công nghệ Nanyang.
Theo RSIS
 
**************************************************************************************************
- Mỹ đang hiện thực hóa tuyên bố dồn 60% nguồn lực hải quân đến châu Á-Thái Bình Dương khi điều lượng lớn tàu chiến, hàng không mẫu hạm... đến khu vực này. Diễn biến này khiến Trung Quốc cảm thấy đứng ngồi không yên.
Tháng 6/2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta tuyên bố nước Mỹ sẽ chuyển trong tâm chiến lược sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Theo đó, nước này sẽ điều 60% lực lượng tàu hải quân đến Thái Bình Dương trong thập niên tới.
Tính tới thời điểm này, nước Mỹ đã gấp rút hiện thực hóa tuyên bố trên. Quan chức hải quân Mỹ hôm 30/9 xác nhận, cụm tàu sân bay tấn công USS George Washington đã bắt đầu hoạt động ở Hoa Đông, không xa Điếu Ngư/Senkaku, quần đảo tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật.
Mỹ vốn tuyên bố không đứng về phía nào trong vụ tranh chấp. Tuy nhiên, các quan chức Mỹ đã nói rõ rằng quần đảo Điếu Ngư/Senkaku nằm trong phạm vi Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật và Washington có nghĩa vụ hỗ trợ Tokyo trong trường hợp quần đảo này bị tấn công.
Cụm hàng không mẫu hạm USS John C.Stennis cũng cách Biển Đông không xa. Mỗi cụm tàu trên được vũ trang hơn 80 máy bay chiến đấu, tàu tuần dương có trang bị tên lửa dẫn đường và tàu khu trục, tàu ngầm và tàu tiếp tế.
Tại vùng biển Philippines gần đó, khoảng 2.200 lính thủy đánh bộ đang có mặt trên tàu USS Bonhomme Richard và hai tàu hộ tống.
SS Bonhomme Richard cũng đem theo các phương tiện tấn công lưỡng cư, các phương tiện hạng nhẹ, pháo, trực thăng và chiến đấu cơ Harrie. Tàu sân bay này sẽ tham gia cuộc diễn tập chung với lính thủy đánh bộ Philippines trong tháng này.
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Ashton Carter tiết lộ rằng Lầu Năm Góc hiện đang đầu tư phát triển nhiều loại khí tài mới phục vụ cho các chiến dịch tại châu Á - Thái Bình Dương, từ tàu ngầm lớp Virginia mới, máy bay tiếp tế nhiên liệu loại mới đến máy bay ném bom tàng hình.
Thời gian tới, Lầu Năm Góc sẽ triển khai 2.500 quân đến Úc, bốn tàu tuần duyên chiến đấu đến đồn trú tại Singapore và đồng thời cũng sẽ hoàn tất việc chuyển quân từ Okinawa (Nhật) sang đảo Guam.
Thứ trưởng Carter còn nói thêm rằng Mỹ đã điều động chiến đấu cơ tàng hình F-22 đến Nhật...
... Loại tiêm kích phối hợp tác chiến thế hệ mới F-35 cũng sẽ được đưa đến đây khi mẫu máy bay này được phát triển xong.

theo pn
 
 
*****************************************************************************************************
 

Suy tính chiến lược của các nước lớn trong cuộc đọ sức ở Biển Đông

Hàng loạt biện pháp của Trung Quốc tung ra trong vấn đề Biển Đông đã thu hút sự chú đặc biệt không chỉ của Mỹ và Nhật Bản, mà còn của cả Nga và Ấn Độ. Mỗi nước đều có suy tính chiến lược riêng trong cuộc đọ sức giữa các cường quốc ở Biển Đông. 
 
 
Đối với Mỹ, nếu Trung Quốc chỉ tìm kiếm trở thành một cường quốc trên đất liền, từ bỏ tham vọng trở thành cường quốc trên biển, Trung Quốc sẽ không gây ra ảnh hưởng mang tính thực chất đối với địa vị chủ đạo thế giới của Mỹ. Thứ nhất, về vị trí địa lý, Trung Quốc lớn mạnh trên bộ cùng lắm chỉ trở thành một nước lớn ở khu vực châu Á, sức ảnh hưởng toàn cầu của Trung Quốc không thể sánh với Mỹ.
 
 Thứ hai, ảnh hưởng quân sự của Trung Quốc sẽ bị hạn chế trên đất liền, không thể vươn xa ra đại dương, điều này khiến Trung Quốc trở thành một gã khổng lồ què, đồng thời cũng không tạo thành mối đe dọa đối với ảnh hưởng quân sự của Mỹ tại Biển Đông.
 
Tuy nhiên, nếu Trung Quốc thực hiện thành công tham vọng trở thành cường quốc trên biển, Trung Quốc sẽ trở thành một gã khổng lồ đúng nghĩa, sẽ tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với địa vị chủ đạo thế giới của Mỹ. Gần đây, các động thái của Mỹ trong vấn đề Biển Đông hay quần đảo Điếu Ngư đã phản ánh rõ sự lo ngại cao độ của Mỹ trước tham vọng trở thành cường quốc trên biển của Trung Quốc.  
 
Có thể khẳng định rằng, nếu Trung Quốc tiếp tục áp dụng các biện pháp trên Biển Đông, đối kháng Trung-Mỹ tại đây sẽ ngày càng quyết liệt. 
 
Sau Chiến tranh Thế giới Thứ II, lực lượng quân sự Nhật Bản tuy bị hạn chế, song không thể phủ nhận vị trí cường quốc tại châu Á của Nhật Bản. Vì là hai nước gần nhau nên nỗ lực trở thành cường quốc trên biển của Trung Quốc bị Nhật Bản coi là một mối đe dọa nghiêm trọng từ bên ngoài.
 
Thứ nhất, Nhật Bản là một nước phụ thuộc nặng nề vào biển, nếu Trung Quốc xây dựng tại Biển Đông một lực lượng trên biển mạnh, đây là điều Nhật Bản không thể chấp nhận.
 
Thứ hai, nếu Trung Quốc giải quyết vấn đề Biển Đông thành công, Trung Quốc sẽ có ưu thế trong vấn đề quần đảo Điếu Ngư và tất nhiên Nhật Bản sẽ thất thế trong cuộc tranh chấp này, đây cũng là điều Nhật Bản không thể chấp nhận.
 
Gần đây, Nhật Bản đẩy nhanh xây dựng lực lượng quân sự, đưa ra Sách trắng Quốc phòng nhằm vào Trung Quốc, không chịu nhượng bộ trong vấn đề quần đảo Điếu Ngư và đổ thêm dầu vào ngọn lửa tranh chấp Biển Đông, thực tế là nhằm cản trở các biện pháp phát triển lực lượng trên biển của Trung Quốc.
 
Cùng với việc Trung Quốc từng bước thực hiện chiến lược biển, cọ sát Trung-Nhật trong lĩnh vực an ninh trên biển sẽ ngày càng gia tăng. 
 
Hải quân Nga gần đây có kế hoạch tái xây dựng một căn cứ hải quân tại cảng Cam Ranh của Việt Nam, dồn dập ký kết các hợp đồng bán vũ khí cho các nước Đông Nam Á, bán cho Việt Nam hàng loạt máy bay chiến đấu tiên tiến, tàu ngầm, tàu chiến và hệ thống chống tên lửa.
 
Động thái này đang gia tăng những nhân tố bất ổn mới cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông, đồng thời phản ánh mối lo ngại sâu sắc trước khả năng Trung Quốc trở thành cường quốc biển.
 
Tuy Trung-Nga đã xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược, song Nga không hề hy vọng Trung Quốc trở thành nhà lãnh đạo thực sự của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. 
 
Về phần Ấn Độ, chiến lược Ấn Độ Dương của Niu Đêli đòi hỏi nước này phải can dự vào các sự vụ ở Biển Đông. Tuy xuất phát điểm của chiến lược Ấn Độ Dương nằm ở việc xây dựng ưu thế của Ấn Độ trên Ấn Độ Dương, song cùng với sự phát triển của chiến lược này và cùng với sự lớn mạnh của Hải quân Ấn Độ, Niu Đêli ngày càng cảm thấy không thỏa mãn với vị trí người đứng đầu Ấn Độ Dương.
 
Mấy năm gần đây, Ấn Độ không ngừng tăng cường năng lực tác chiến viễn dương, xây dựng Bộ Tư lệnh Hải quân Viễn Đông tại quần đảo Andaman cách Đông Nam Á vài trăm cây số, mục đích của nó là quyết không chỉ tăng cường năng lực kiểm soát đối với Ấn Độ Dương, mà là mở rộng tầm ảnh hưởng tới khu vực Biển Đông rộng lớn. 
 
Bên cạnh đó, Ấn Độ có ý đồ thông qua can thiệp vào vấn đề Biển Đông để kiềm chế Trung Quốc. Giới chiến lược Ấn Độ cho rằng Trung Quốc về lâu dài sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng đối với Ấn Độ, nhất là khi tiến trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc không ngừng được đẩy nhanh và chính sách ngoại giao ngày càng cứng rắn. Do Trung Quốc và Ấn Độ có sự trùng hợp lợi ích về mặt chiến lược địa chính trị nên quan hệ Trung-Ấn trong tương lai sẽ chịu càng nhiều đối kháng địa chính trị.
 
Trong bối cảnh này, Ấn Độ có ý đồ biến vấn đề Biển Đông thành một điểm trong chính sách kiềm chế Trung Quốc. Với sự can dự vào vấn đề Biển Đông, Ấn Độ không chỉ có điều kiện khai thác tài nguyên dầu khí ở vùng biển này và gia tăng quan hệ kinh tế, quốc phòng với các nước ASEAN, mà quan trọng hơn, với sự tăng cường hiện diện quân sự tại Biển Đông, Ấn Độ có thể ngăn chặn việc Trung Quốc tiến vào Ấn Độ Dương.
 
Ngoài ra, có học giả Ấn Độ cũng chỉ ra rằng cần lợi dụng vấn đề Biển Đông để làm con bài chiến lược trong đàm phán biên giới trên bộ Trung-Ấn. 
Theo mạng “Bình luận Trung Quốc” (Hồng Công)